Nguy cơ xung đột về quyền sở hữu trí tuệ khi lạm dụng Chat GPT

ASLAW

Nguy cơ xung đột về quyền sở hữu trí tuệ khi lạm dụng Chat GPT

Chat GPT đã trở thành một hiện tượng toàn cầu mới, được lan truyền rộng rãi và nhận được nhiều đánh giá tích cực từ cả người dùng tại Việt Nam và trên toàn thế giới. Tuy nhiên, với sự phổ biến ngày càng tăng của Chat GPT tại Việt Nam, nhiều người đã bắt đầu quan ngại về mặt pháp lý khi sử dụng sản phẩm được tạo ra bởi Chat GPT.

Họ muốn hiểu rõ về bản chất của Chat GPT và nội dung mà phần mềm này tạo ra, cũng như khả năng vi phạm luật về quyền sở hữu trí tuệ khi sử dụng sản phẩm này. Trong bài viết dưới đây, ASL LAW sẽ phân tích về Chat GPT và những nguy cơ pháp lý mà người sử dụng có thể phải đối mặt khi lạm dụng Chat GPT trong cuộc sống.

Có phải sản phẩm của Chat GPT vi phạm quyền sở hữu trí tuệ?

Sau khi thực tế sử dụng, người dùng phần mềm Chat GPT đã nhận thấy rằng các sản phẩm tạo ra hoàn toàn không sao chép, không vi phạm quyền tác giả sau khi kiểm tra trên nhiều phần mềm kiểm tra đạo văn quốc tế. Tuy nhiên, dù không phát hiện sự sao chép thông qua các phần mềm kiểm tra đạo văn, liệu sản phẩm đó có vi phạm quyền tác giả không?

Bài thơ, văn bản, âm nhạc,… có thể có sự khác biệt nhỏ so với nguyên tác hoặc được tổng hợp từ nhiều nguồn khác nhau và có thể không bị phát hiện là vi phạm quyền tác giả do các công cụ kiểm tra đạo văn hiện tại chưa đủ khả năng xác định sự tương đồng đến mức gây nhầm lẫn, sản phẩm biến tấu một phần chỉ có thể kiểm tra nguyên văn, tức là Copy & Paste.

Nếu một sản phẩm là một bản sao hoàn toàn mà không trích dẫn nguồn theo tiêu chuẩn quốc tế, thì sẽ bị xem là đạo văn. Tuy nhiên, theo Luật Sở hữu trí tuệ của Việt Nam và quốc tế, một sản phẩm không cần phải hoàn toàn giống mới được xem là vi phạm quyền tác giả.

Luật Sở hữu trí tuệ 2022 quy định về các hành vi vi phạm quyền tác giả bao gồm hành vi xâm phạm quyền nhân thân và quyền tài sản như quy định tại Điều 19 và Điều 20.

Cụ thể, việc sử dụng sản phẩm của Chat GPT có thể xâm phạm quyền “bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm không cho người khác xuyên tạc; không cho người khác sửa đổi, cắt xén tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây tổn hại đến danh dự và uy tín của tác giả” thuộc quyền nhân thân của tác giả.

Ngoài ra, người sử dụng sản phẩm của Chat GPT cũng có thể xâm phạm quyền “tạo ra sản phẩm phái sinh” và quyền “sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp toàn bộ hoặc một phần tác phẩm bằng bất kỳ phương tiện hoặc hình thức nào” thuộc quyền tài sản của tác giả.

Tỉ lệ xâm phạm này càng cao khi người dùng không biết nguồn gốc thông tin mà Chat GPT tổng hợp. Để kiểm tra, người dùng cần phải kiểm tra kỹ lưỡng, so sánh sản phẩm qua các kênh tra cứu trực tuyến như Google, Bing,… Tuy nhiên, thực hiện việc này có nghĩa là loại bỏ đi lợi ích của Chat GPT là cung cấp thông tin nhanh chóng, không mang lại lợi ích thực sự cho người dùng.

Hơn nữa, với sự phổ biến của Chat GPT trên nhiều quốc gia, việc người dùng từ nhiều quốc gia, nhiều ngôn ngữ khác nhau đặt cùng một câu hỏi về việc tạo ra một sản phẩm cụ thể không hiếm. Nếu Chat GPT tạo ra một sản phẩm nhưng trong các ngôn ngữ khác nhau, thì người dùng có thể không biết sản phẩm đó là một bản sao.

Với sự gia tăng của số lượng người dùng Chat GPT mang sản phẩm vào cuộc sống, khả năng xung đột quyền tác giả xuyên biên giới trên nhiều khu vực địa lý sẽ tăng lên với tính phức tạp của vấn đề.

Nếu Chat GPT sử dụng thuật toán để sao chép, bắt chước phong cách của một tác phẩm nổi tiếng và ghi tên mình là người tạo ra tác phẩm, thì bên nào sẽ chịu trách nhiệm pháp lý khi người dùng Chat GPT sử dụng sản phẩm đó trong cuộc sống như thiết kế phần mềm (code), tạo nội dung web, viết kịch bản, bài thơ, nộp luận văn,… và bị xác định là sản phẩm vi phạm quyền tác giả?

Người dùng có phải là bên vi phạm khi không hiểu rõ giới hạn của Chat GPT hay công ty phát triển thuật toán biến áp của Chat GPT chịu trách nhiệm? Liệu Chat GPT có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý không?

Sản phẩm mà Chat GPT tạo ra thuộc sở hữu của ai?

Chat GPT có thể thực hiện nhiều công việc mà người dùng giao, như viết văn bản, làm luận văn, tạo kịch bản phim, viết thơ, lời bài hát, lập trình mã máy tính, soạn hợp đồng, phân tích và cung cấp câu trả lời mẫu cho khách hàng, giải thích và phân tích chi tiết các quy định pháp luật,…

Nếu xét về khả năng tạo ra một bài văn, một tác phẩm văn học hay một bài luận, có thể thấy rằng Chat GPT đang vượt trội hơn so với các ứng dụng khác cùng thời đại đối với cộng đồng. Tuy nhiên, vì hiện tại Chat GPT có thể truy cập và sử dụng miễn phí gần như không tốn công sức nên nhiều người dùng đang đặt câu hỏi liệu sản phẩm đó thuộc về họ hoàn toàn hay là thuộc về những người tạo ra Chat GPT, hoặc liệu bản thân Chat GPT có phải là chủ sở hữu của các tác phẩm đó không.

Nếu sản phẩm do Chat GPT tạo ra là duy nhất và không vi phạm quyền của bất kỳ bên nào khác, thì sản phẩm đó sẽ thuộc quyền sở hữu của ai?

Theo quy định của Luật Sở hữu Trí tuệ 2022, việc xác định người sở hữu sản phẩm do Chat GPT tạo ra có thể được chia thành ba trường hợp:

Chủ sở hữu là Chat GPT

Khoản 1 Điều 12a của Luật Sở hữu Trí tuệ 2022 quy định: “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo tác phẩm. Trong trường hợp có từ hai người trở lên cùng trực tiếp đóng góp vào sự sáng tạo của tác phẩm với chủ ý là kết hợp đóng góp của họ thành một tổng thể hoàn chỉnh, thì những người đó được coi là các đồng tác giả.”

Khoản 1 Điều 13 của Luật Sở hữu Trí tuệ 2022 quy định: “Tổ chức hoặc cá nhân có tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả gồm người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm và chủ sở hữu quyền tác giả được quy định tại các điều từ Điều 37 đến Điều 42 của Luật này.”

Một số quan điểm cho rằng AI của Chat GPT chính là chủ sở hữu quyền tác giả của các sản phẩm mà nó tạo ra, được bảo hộ quyền tác giả do Chat GPT thực hiện toàn bộ các công đoạn thu thập, tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn và biến đoạn thông tin thô đó thành văn bản có phong cách thân thiện với người dùng.

Tuy nhiên, một số quan điểm khác phản đối bằng cách chỉ ra rằng thuật ngữ ‘người trực tiếp sáng tạo’ trong hai khoản trên đã loại bỏ khả năng sở hữu tác phẩm của Chat GPT đối với các sản phẩm mà nó tạo ra do Chat GPT là một trí tuệ nhân tạo chứ không phải là một ‘người’.

Với sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo, các cuộc tranh luận về việc liệu sản phẩm tạo ra bởi trí tuệ nhân tạo thuộc sở hữu của trí tuệ nhân tạo hay của người sáng tạo sẽ trở nên phổ biến hơn. Một ví dụ điển hình là cuộc tranh luận của tiến sĩ Stephen Thaler – một nhà tiên phong nổi tiếng trong lĩnh vực công nghệ, đang chiến đấu với nhiều tòa án quốc tế để công nhận rằng AI DABUS mà ông tạo ra là một nhà sáng chế hợp pháp (Tiến sĩ Thaler vẫn là chủ sở hữu của các bằng sáng chế đó).

Trong cuộc tranh luận pháp lý của Tiến sĩ Thaler tại Australia, Tòa án Liên bang Australia đã quyết định không công nhận AI là một nhà sáng chế do AI không phải là một thể nhân. Hiện nay, đội ngũ pháp lý của Tiến sĩ Thaler vẫn đang chiến đấu chống lại quyết định này.

Trong Đạo luật Bằng sáng chế của Australia, thuật ngữ nhà sáng chế hay ‘inventor’ không được định nghĩa rõ ràng, để lại nhiều mơ hồ về việc liệu trí tuệ nhân tạo có thể là một nhà sáng chế hợp pháp hay không. Mặc dù không có quy định cụ thể, dựa trên các quyết định trước đó, Tòa án Australia vẫn ra quyết định từ chối cấp văn bằng bảo hộ công nhận AI là DABUS.

Vì không có quy định rõ ràng, việc hiểu và áp dụng các điều khoản, quy định trong một bộ luật sẽ tùy thuộc vào sự nhận thức của mỗi người. Về bản chất, cuộc tranh luận pháp lý của Tiến sĩ Thaler chính là cuộc tranh luận để thuyết phục bên còn lại hiểu được cách diễn giải luật pháp của mình.

Từ một góc nhìn khác về vấn đề này, mâu thuẫn xuất phát từ sự không rõ ràng, không chi tiết của các bộ luật khi ban hành về việc khái niệm về trí tuệ nhân tạo và về các sản phẩm được tạo ra có sự hỗ trợ từ trí tuệ nhân tạo vẫn chưa được phổ biến. Tương tự như vậy, mặc dù Luật Sở hữu Trí tuệ của Việt Nam có quy định về ‘người trực tiếp sáng tạo’, nhưng nó hoàn toàn loại trừ khả năng Chat GPT là chủ sở hữu của quyền tác giả đối với các sản phẩm mà nó tạo ra, do điều khoản này được soạn thảo, ban hành khi trí tuệ nhân tạo vẫn còn hạn chế.

Hiện nay, với sự xuất hiện và lan rộng của Chat GPT, Luật Sở hữu Trí tuệ 2022 đã được sửa đổi với các điều khoản không quá phù hợp với sự phát triển của xã hội, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ và trí tuệ nhân tạo. Việt Nam cần xem xét sửa đổi Luật Sở hữu Trí tuệ hiện hành theo hướng quy định rõ ràng về chủ sở hữu quyền tác giả đối với các tác phẩm do Chat GPT hoặc bất kỳ siêu trí tuệ nào khác tạo ra trong tương lai, có thể thay đổi thuật ngữ ‘người trực tiếp sáng tạo’ thành ‘bên trực tiếp sáng tạo’,…

Chủ sở hữu là người dùng Chat GPT

Dựa trên định nghĩa của ‘người trực tiếp sáng tạo’, một số quan điểm khẳng định rằng người dùng Chat GPT sẽ là chủ sở hữu quyền tác giả đối với các sản phẩm được tạo ra bởi AI.

Khoản 2 của Điều 12a trong Luật Sở hữu Trí tuệ 2022 quy định rằng: “Những người hỗ trợ, góp ý hoặc cung cấp tư liệu cho người khác trong quá trình sáng tạo tác phẩm không được coi là tác giả hoặc đồng tác giả.”

Nếu bỏ qua thuật ngữ ‘người’, điều này có thể được hiểu là các bên bao gồm các công cụ hỗ trợ, đóng góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác trong quá trình sáng tạo tác phẩm không được coi là tác giả hoặc đồng tác giả. Theo quan điểm này, Chat GPT được xem như là một công cụ hỗ trợ và cung cấp thông tin cho người dùng Chat GPT.

Nếu không có sự chỉ đạo, câu hỏi từ người dùng, Chat GPT sẽ không thực hiện việc tổng hợp thông tin hiển thị trên mạng hoặc trong cơ sở dữ liệu của nó thành văn bản. Do đó, Chat GPT chỉ là công cụ, và người dùng mới là người tạo ra tác phẩm. AI trong Chat GPT không thể tự tạo ra một tác phẩm mà không có ảnh hưởng từ người dùng, điều này là điều kiện cần thiết để tạo ra một tác phẩm.

Thứ hai, từ một góc độ khác, khi tạo một tài khoản trên Chat GPT, dù miễn phí hay trả phí như Chat GPT Plus với giá 20 đô la một tháng, người dùng đã thực hiện một giao dịch dân sự với nền tảng Chat GPT và công ty phát triển nó.

Người dùng có quyền truy cập vào trí tuệ nhân tạo AI của Chat GPT và các sản phẩm mà nó tạo ra. Về cơ bản, người dùng là bên sử dụng dịch vụ, đã sử dụng dịch vụ của Chat GPT là bên cung cấp dịch vụ, giao cho AI Chat GPT nhiệm vụ tổng hợp thông tin thông qua các mã lệnh để cung cấp cho người dùng một sản phẩm hoàn chỉnh.

Khoản 2 của Điều 39 trong Luật Sở hữu Trí tuệ 2022 quy định: “Tổ chức hoặc cá nhân ký kết hợp đồng với tác giả sáng tạo tác phẩm sẽ là chủ sở hữu của các quyền được quy định tại Điều 20 và khoản 3 của Điều 19 của Luật này, trừ trường hợp có sự thỏa thuận khác.”

Do đó, nếu không có thỏa thuận khác, giao dịch dân sự giữa người dùng và Chat GPT được xem như một giao dịch dân sự hợp pháp thông qua việc truyền dữ liệu điện tử dưới hình thức thông điệp dữ liệu (khoản 1 của Điều 119 trong Bộ Luật Dân sự 2015 số 91/2015/QH13), người dùng sẽ có quyền “Công bố tác phẩm hoặc cho phép người khác công bố tác phẩm” (khoản 3 của Điều 19) và tất cả các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật Sở hữu Trí tuệ 2022.

Theo quan điểm này, người dùng sẽ có mọi quyền tài sản để kinh doanh, thu lợi nhuận từ các sản phẩm mà Chat GPT tạo ra và một phần của quyền nhân thân là quyền công bố tác phẩm. Các quyền đặt tên, ghi tên và bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm trong quyền nhân thân sẽ thuộc về Chat GPT hoặc công ty phát triển Chat GPT.

Điều 36 của Luật Sở hữu Trí tuệ 2022 quy định rằng chủ sở hữu quyền tác giả là tổ chức hoặc cá nhân nắm giữ một, một số hoặc toàn bộ các quyền tài sản quy định tại Điều 20 của Luật này mà không có yêu cầu phải nắm giữ toàn bộ quyền nhân thân. Do đó, khi nắm giữ quyền tài sản, người dùng Chat GPT đã trở thành chủ sở hữu quyền tác giả đối với các sản phẩm mà Chat GPT tạo ra.

Chat GPT và người dùng là đồng chủ sở hữu quyền tác giả (đồng tác giả)

Tiếp tục từ quan điểm trên, nếu Chat GPT được xem như một thực thể pháp lý có khả năng chịu trách nhiệm tương tự như con người và người dùng Chat GPT là bên thuê dịch vụ của Chat GPT, một số người dùng đã đề xuất liệu Chat GPT và người dùng có thể là đồng tác giả hay không?

Dựa trên Khoản 1 và Khoản 2 của Điều 6 trong Nghị định 22/2018/NĐ-CP, tác giả là người trực tiếp tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, trong khi đồng tác giả là những tác giả cùng trực tiếp tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học.

Vì vậy, bài toán quay trở lại vấn đề liệu Chat GPT có thể được công nhận là một ‘người’ hay không. Theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, câu trả lời là không. Tất cả các tác giả tạo ra các tác phẩm văn học, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện đều được xác định là con người ‘cá nhân’ hoặc tổ chức có khả năng chịu trách nhiệm pháp lý.

Do đó, Chat GPT không thể được coi là đồng tác giả đối với các sản phẩm mà nó tạo ra.

Trong trường hợp luật pháp có quy định công nhận rằng AI có thể là tác giả trong tương lai, thì Chat GPT hoặc công ty phát triển nó cũng chỉ có các quyền nhân thân theo quan điểm trên, chứ không thể trở thành đồng tác giả, bởi vì bản chất của mối quan hệ giữa Chat GPT và người dùng là một mối quan hệ thuê dịch vụ. Người dùng trả phí (hoặc có thể miễn phí) để sử dụng dịch vụ của Chat GPT, và Chat GPT là bên cung cấp dịch vụ sáng tạo cho người dùng.

Đăng ký ngay Liên hệ tư vấn
Liên hệ ngay để được tư vấn

Liên hệ

  • ASLAW
  • 0914195266
  • 0914195266

    Xem thêm bài viết khác
    Quy định về điều kiện hưởng lương hưu tại Việt Nam

    Quy định về điều kiện hưởng lương hưu tại Việt Nam

    Ở Việt Nam, quy định về điều kiện hưởng lương hưu được quy định cụ thể trong Luật Bảo hiểm xã hội và các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan. Dưới đây là một số điểm quan trọng […]

    Lưu ý về việc tiếp tục lao động sau khi đã đến tuổi nghỉ hưu tại Việt Nam

    Lưu ý về việc tiếp tục lao động sau khi đã đến tuổi nghỉ hưu tại Việt Nam

    Trong thời đại nới lỏng các ràng buộc về tuổi nghỉ hưu và với sự gia tăng đáng kể về tuổi thọ trung bình, việc tiếp tục lao động sau khi đã đến tuổi nghỉ hưu không còn là điều […]

    Quy định về việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp tại Việt Nam

    Quy định về việc chuyển quyền sử dụng đối tượng sở hữu công nghiệp tại Việt Nam

    Trong hoạt động kinh doanh và đầu tư, việc chuyển quyền sử dụng đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp là một khía cạnh quan trọng trong việc tạo ra giá trị và phát triển. Tại Việt Nam, […]

    KHÁCH HÀNG CỦA ASLAW
    LIÊN HỆ VỚI ASLAW